Bài văn hay THPTNGỮ VĂN 11Những bài văn hay

Chí Phèo hấp dẫn bởi cách nhìn nhận một tình cảm mới về những điều mà ai cũng biết cả rồi

Nguyễn Đình Thi cho rằng: “Tác phẩm văn học lớn, hấp dẫn người ta bởi cách nhìn nhận một tình cảm mới về những điều, những việc ai cũng biết cả rồi”.

Anh (chị) hiểu ý kiến đó như thế nào? Qua tác phẩm Chí Phèo – Nam Cao hãy làm sáng tỏ nhận định trên.

Chí Phèo hấp dẫn bởi cách nhìn nhận một tình cảm mới về những điều ai cũng biết cả rồi- Bài làm mẫu số 1

Tôi nhớ, đã có quan niệm cho rằng: “ Sáng tạo là cái cần có của mỗi nhà văn, anh không thể là nhà văn thực thụ khi không có giọng riêng mà không thể tìm ở bất kỳ cổ họng của một người nào khác.” Đúng như vậy, nhà văn phải có một phong cách riêng, một lối đi riêng thì mới có thể gây được ấn tượng sâu đậm và chiếm lĩnh trái tim người đọc. Phong cách chính là cái nhìn nhận, cái cảm xúc riêng mà mỗi nhà văn đều thể hiện trong những đứa con tinh thần của mình. Bàn về vấn đề này, Nguyễn Đình Thi cho rằng tác phẩm văn học lớn, hấp dẫn người ta bởi cách nhìn nhận mới,tình cảm mới về những điều những việc ai cũng biết cả rồi và minh chứng rõ nét nhất là ý kiến của Nguyễn Đình Thi chính là truyện ngắn Chí Phèo – Nam Cao.

Một sự thám hiểm thật sự không cần những vùng đất mới mà cần những đôi mắt mới. Đúng thế phong cách làm nên tên tuổi của mỗi nhà văn, họ nhìn người nhìn đời bằng những đôi mắt khác nhau, họ lùng sục và tìm kiếm cũng chỉ cho ra những cách nhìn nhận mới và có thể thể hiện những tình cảm mới đó chính là sứ mệnh cao cả của văn chương. Cách nhìn nhận mới tức là dấu ấn chủ quan của mỗi tác giả là cách nhìn riêng biệt không tìm thấy trong cổ họng của bất kỳ ai, tạo nên phong cách của mỗi nhà văn. Họ tuy có thể cùng hướng về một đề tài nhưng cách khai thác của mỗi người về đề tài ấy lại khác nhau, điều đó dẫn đến những tình cảm mới trong sáng tác văn chương của mỗi nhà văn. Đó là những thái độ những cảm xúc của mỗi nhà văn dành cho nhân vật họ phản ánh. Đó có thể là sự thương xót, sự cảm thông hay đưa nhân vật của họ tới một nơi khác, tình cảm đó cũng là sự bộc lộ dấu ấn mang tính chủ quan của tác giả. Ý kiến của Nguyễn Đình Thi muốn đề cao tới phong cách riêng, cách nhìn nhận hiện thực đời sống riêng, cách bày tỏ tình cảm, cảm xúc riêng của mỗi tác giả trong sáng tác văn học. Những điều mà Nguyễn Đình Thi khẳng định đã được thể hiện rất rõ trong tác phẩm Chí Phèo của nhà văn Nam Cao.

Nam Cao là một đại biểu ưu tú trong dòng văn học hiện thực phê phán thời kỳ 1930 – 1945 là một người bề ngoài có vẻ lạnh lùng, ít nói nhưng đời sống nội tâm của ông lại vô cùng sâu sắc, đậm đà. Phải chăng vì thế mà văn của ông vừa day dứt, vừa quằn quại, vừa thương, lại vừa trách hờn khiến người đọc đứng ngồi không yên. Đọc văn của Nam Cao người đọc như lạc vào một thế giới với những nhân vật kỳ dị, khác thường nhưng lại có những phẩm chất tốt đẹp thể hiện tư tưởng của nhà văn. Điều đó được thể hiện rất rõ qua tác phẩm Chí Phèo một trong những tác phẩm được Ông viết từ sớm. Nếu như ông được xem là nhà văn của nông dân cùng với Ngô Tất Tố thì cũng vì trước hết Ông có Chí Phèo.

Chí Phèo là một truyện ngắn đã thể hiện rất rõ cách nhìn nhận mới của Nam cao về cuộc sống bần cùng hóa của người nông dân trước cách mạng. Không đi vào sưu cao thuế nặng, không đi vào nỗi khổ về vật chất mà cái nhìn của Nam cao về người nông dân chính là nỗi khổ về gánh nặng, bi kịch tinh thần. Chí Phèo là một đứa trẻ ngay từ khi sinh ra đã bị bỏ rơi bên cạnh cái lò gạch cũ, được một anh đi thả ống lươn nhặt về nuôi rồi lớn lên qua sự truyền tay nhau của dân làng Vũ Đại. Chí Phèo lớn lên đã trở thành canh điền cho cụ Bá Kiến. Tuy bất hạnh nhưng Chí Phèo vẫn là một người lương thiện, hiền lành. Anh khỏe mạnh cày thuê làm mướn cho cụ Bá với tính cách chịu khó của một người nông dân, anh đã tự nuôi sống mình bằng chính đôi tay của mình. Chỉ có một ước mơ hiền lành lương thiện như bao người khác “có một gia đình nho nhỏ chống cuốc mướn, cày thuê, vợ dệt vải. Chúng lại nuôi một con lợn làm vốn liếng, khá giả thì mua dăm ba sào ruộng làm.” một ước mơ rất đỗi bình dị làm sao, ngoài ra chí còn là một người giàu lòng tự trọng khi bị bà Ba gọi lại bóp chân, mà cứ bóp cao lên nữa thì Chí thấy nhục hơn là thấy thích, là một con người sinh ra đã gánh lấy chữ bất hạnh vào mình, thế nhưng Chí vẫn là một người tốt, sống trong cộng đồng của những người lương thiện. Khi nhìn thấy cảnh Chí Phèo bóp đùi của vợ mình, tên cáo già Bá Kiến đẩy anh vào tù sau nhiều năm với sự nhào nặn của nhà tù thực dân Chí đã biến thành một con người hoàn toàn khác.

Nếu như đọc Lão Hạc người ta đọc xót xa bởi anh con trai của lão đi đồn cao su không biết sống chết thế nào bởi “cao su đi dễ khó về” thì đến với Chí Phèo sau những năm đi biệt tích, thì lúc về không ai muốn Chí lại thành ra như vậy. Chí lần này trở về trông khác hẳn “cái đầu thì trọc lóc, cái răng cạo trắng hớn, mặt đen mà rất câng câng, hai mắt gườm gườm trông gớm chết…….. trên tay chạm trổ những hình con rồng, con Phượng…….” Ngoại hình của chí đã thay đổi hoàn toàn từ một người nông dân hiền lành, khỏe mạnh thì giờ trông hệt thằng săng đá. Mới về hôm qua, hôm nay đã thấy hắn ngồi uống rượu ở quán thịt chó từ sáng đến xế chiều….Chí chìm ngập trong những cơn say, ăn trong lúc say, ngủ trong lúc say, chửi trong lúc say, thức dậy vẫn còn say. Những cơn say đó cứ nối tiếp nhau thành một cơn say dài miên man không dứt. Chí say để làm gì? Phải chăng vì để trốn tránh quá khứ đau buồn. Nhưng không phải vậy Chí say bây giờ là cảnh say của Thằng lưu manh, say để rạch mặt ăn vạ, say để đến chửi láo Bá Kiến. Chí đến nhà Bá Kiến lúc đang say, rạch mặt ăn vạ khiến cho dân làng đổ xô đến xem. Chí chửi trời, chửi đất chửi dân làng Vũ Đại, chửi những ai không chịu chửi nhau với hắn, cuối cùng là chửi đứa chết mẹ nào đẻ ra thân hắn cho hắn khổ thế này. Và với cái ngoại hình của một thằng săng đá nên chí đã bị loại bỏ khỏi cộng đồng người lương thiện nên đáp lại Chí chỉ là 3 con chó dữ. Từ người chí đã bị đánh tụt nhanh với con vật mà lại là con vật lạ, càng cho thấy sự “quái đâm với người, lạc loài với vật” của Chí Phèo. Hắn ăn vạ Bá Kiến nhưng với cái lão già khôn “dóc đời” thì việc thuần hóa Chí Phèo chỉ là một việc đơn giản, hắn đã nịnh Chí Phèo nhận họ hàng, thiết đãi cơm rượu cho Chí Phèo yên trí càng lún sâu vào tội lỗi, hắn đã mua chuộc Chí khiến Chí trở thành một công cụ đắc lực trong việc trị những kẻ muốn chống lại lão. Chí Phèo từ đó đã đi sâu vào tội lỗi, lún sâu vào ác nghiệt, làm chảy máu và chảy nước mắt của bao người dân vô tội. Trong mắt dân làng bây giờ hắn thực sự là một con quỷ dữ.

Thế nhưng trong một đêm không may ăn nằm với Thị Nở trong bụi chuối, đến sáng hôm sau khi tỉnh dậy và lòng mơ hồ buồn. Hắn nghĩ về quá khứ, hiện tại và tương lai. Được một bàn tay phụ nữ chăm sóc, hắn dường như đã cảm động, mắt ươn ướt bởi từ lúc cha sinh mẹ đẻ đến giờ hắn chỉ đi phục vụ người khác chứ có ai chăm sóc hắn bao giờ đâu? Thị Nở là một người đàn bà xấu, ma chê quỷ hờn lại nghèo. Thế nhưng trong mắt Chí Phèo, Thị lại là một người phụ nữ đẹp, chỉ ăn cháo hành Thị nấu cho mà cảm động mà yêu Thị, thương Thị biết bao. Chí tỏ tình với Thị thật chân thành, bình dị mà cũng thật sâu sắc tình tứ: “hay mình sang đây ở với tôi một nhà cho vui” và cũng chính Chí hiểu rằng Thị chính là cái cầu nối giúp Chí trở lại cộng đồng bằng phẳng của người lương thiện, giúp Chí trở lại là một anh thanh niên khỏe mạnh, hiền lành như trước kia và Chí muốn cùng Thị xây dựng một hạnh phúc gia đình như hắn đã mong muốn trước kia. Thế nhưng Thị Nở vốn là một người đàn bà dở hơi, sống với Chí Phèo được 5 ngày Thị mới nhớ rằng mình có một người bà cô, Thị về bày tỏ tâm sự của mình với bà cô lúc đầu, bà cứ tưởng cháu gái mình nói đùa thế nhưng nhận ra cháu mình vốn là một đứa dở hơi. Bà không đồng ý và quát mắng “đã nhịn đến này thì nhịn hẳn đi ai lại đâm đầu đi lấy thằng không cha như thằng Chí Phèo”. Bực tức Thị sang trút hết những cơn giận dỗi lên Chí Phèo, ban đầu hắn tưởng là Thị đùa nên cười, nhưng lúc sau thì hắn lại nhận ra vẻ như thất vọng. Thị ra về, hắn chạy theo ôm lấy Thị, nhưng đáp lại người đàn bà ấy đã dúi cho Chí một cái ngã lăn khèo xuống sân. Chí đã hoàn toàn tuyệt vọng và tìm đến rượu, nhưng kỳ lạ thay lần này hắn càng uống càng tỉnh. Càng tỉnh càng nhận ra bi kịch của cuộc đời mình. Bi kịch sinh ra là một con người nhưng lại không được chấp nhận là một con người. Chí nhận ra bi kịch ôm mặt khóc rưng rức, hắn cầm dao và đi đến nhà Thị Nở để định giết chết con khọm già và con đĩ Nở kia nhưng lương tri lại mách bảo hắn,đưa hắn đến nhà Bá Kiến. Bởi đây mới chính là kẻ thù cướp đi nhân hình và nhân tính của hắn. Hắn đã đến và đòi Bá Kiến “Tao muốn làm người lương thiện” câu hỏi nhức nhối đó cứ ám ảnh trái tim người đọc và một nhát dao đã giải quyết tất cả, Chí giết chết Bá Kiến đồng thời cũng tự kết liễu cuộc đời mình.

Nam Cao đã đi vào một bi kịch của con người, bi kịch bị cự tuyệt quyền làm người khác với Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan…… Họ đi vào nỗi khổ về vật chất, khi có chị Dậu có anh Pha người ta đã thấy cảnh của người nông dân thật khổ sở biết bao. Thế nhưng, khi Chí Phèo của Nam Cao ngất ngưởng bước ra thì người ta mới hiểu thế nào là khổ cùng cực. Đó chính là sự bị tước đoạt quyền làm người. Nổi khổ đau đớn, cay đắng, ám ảnh nhất như có bài thơ đã từng viết:

“Nam Cao chết và Chí Phèo vẫn sống
Nào có dài chi một kiếp người
Nhà văn mất nhân vật từ trong sách
Vẫn ngày ngày lăn lóc giữa trần ai.”

Bên cạnh về cách nhìn nhận mới thì Chí Phèo cũng thể hiện một tình cảm mới của Nam cao, một tình cảm nhân đạo sâu sắc. Mối tình Thị Nở – Chí Phèo chính là sự xoa dịu cho độc giả. Nhà văn đã cho thấy nhân vật của mình một quãng thời gian hạnh phúc ngắn ngủi trong cuộc đời bất hạnh. Nhà văn đã thể hiện một cách sâu sắc niềm cảm thông của mình. Ông phát hiện ra trong cái lốt của một con quỷ dữ kia, phần người vẫn tiềm tàng. Chỉ cần một cơn gió tình yêu thổi qua là bùng cháy dữ dội. Đó chính là tâm lòng nhân đạo sâu sắc của một nhà văn dành cho nhân vật của mình.

Bản chất của văn chương là sáng tạo, nhà văn phải biết khơi nguồn chưa ai khơi và sáng tạo những gì chưa ai có. Đó chính là một trong những điều kiện làm nên danh tiếng và tên tuổi của một nhà văn. Chí Phèo có thể coi như một “áng văn đáng thờ” vì nó đã phản ánh một cách nhức nhối hiện thực của người nông dân trước cách mạng. Đó là người nông dân bị tước đoạt cả nhân hình lẫn nhân tính.

Tác phẩm văn học lớn hấp dẫn người ta bởi “cách nhìn nhận mới, tình cảm mới, về những điều, những việc mà ai cũng biết cả rồi” ý kiến đó của Nguyễn Đình Thi có thể xem là một tiêu chuẩn một thước đo để đánh giá những tác phẩm văn học đó là cách nhìn mới và tình cảm mới. Chí Phèo một áng văn hiện thực xuất sắc của Nam Cao, đáp ứng đủ những yêu cầu đó và có lẽ chính vì điều đó nên Chí Phèo mãi là một áng văn có giá trị lưu dấu ấn mãi trong trái tim người đọc hôm nay và cả mai sau.

(Sưu tầm bài viết của học sinh)

Chí Phèo hấp dẫn bởi cách nhìn nhận một tình cảm mới Chí Phèo hấp dẫn bởi cách nhìn nhận một tình cảm mới về những điều mà ai cũng biết cả rồi
Chí Phèo hấp dẫn bởi cách nhìn nhận một tình cảm mới về những điều ai cũng biết cả rồi

Chí Phèo hấp dẫn bởi cách nhìn nhận một tình cảm mới về những điều ai cũng biết cả rồi – Bài mẫu 2

“Cái quan trọng trọng tài năng văn học là lối nói riêng của Nhà văn, là giọng riêng của nhà văn mà ta không thể tìm thấy trong cổ họng của bất kỳ người nào khác”, (Tuốc ghê nhep). Đúng như vậy! Nghệ thuật chính là lĩnh vực của cái độc đáo tức là phong cách một cái gì đó rất mới, rất riêng biệt mà ta bắt gặp khi đọc xong một tác phẩm. Và cũng chính sự mới mẻ, khác lạ đó đã làm nên sức sống lâu bền của một tác phẩm văn chương thực thụ. Trăn trở về việc tạo dựng lối đi riêng cho mình, Nguyễn Đình Thi cho rằng “tác phẩm văn học lớn hấp dẫn người ta bởi cách nhìn nhận mới, tình cảm mới về những điều những việc mà ai cũng biết cả rồi. Nguyễn Đình Thi đã thực sự sáng suốt khi nghiền ngẫm ra điều này trong suốt quá trình sáng tạo nghệ thuật của ông và truyện ngắn “Chí Phèo” của Nam Cao chính là một lời giải thích thỏa đáng khơi thông khúc mắc trong lòng nghệ sĩ về nhận định này.

“Cách nhìn nhận” là con mắt suy xét nhìn người, nhìn đời của Nhà văn. Hay nói cách khác đây chính là những phát hiện mới mẻ, độc đáo của nhà văn về con người, về cuộc đời mà cách nhìn đó khác xa hoàn toàn với những nhà văn cùng thời. Tình cảm là những rung động, thương yêu xuất phát từ sâu thẳm trái tim, nhưng ở đây lại là tình cảm mới có nghĩa là khác xa với những tình cảm yêu, ghét, giận, hờn bình thường những sự cảm thông mà các nhà văn khác đã phát hiện, cảm thông, chia sẻ hết rồi. “tình cảm mới” ấy là sự yêu thương, chia sẻ, cảm thông nhưng nỗi đau bất hạnh mà chưa ai dám chạm tới, nay mới được giang rộng vòng tay đón nhận. và một tác phẩm lớn rất cần đến hai yếu tố này, từ đây ta thấy Nguyễn Đình Thi đưa ra một nhận xét vô cùng sâu sắc và đúng đắn. Một tác phẩm thật sự có giá trị phải là một tác phẩm được tạo dựng nên những khám phá mới mẻ về cuộc sống và con người, để tự nó rung lên những thương cảm cho nỗi khổ tột cùng mà khó thấy của họ cho dù đề tài đó đã được khai thác rất nhiều lần. Đó không phải là một tác phẩm hời hợt viết về những điều mà ai cũng biết và thấy cả rồi. Bởi lẽ “Nghệ thuật là sáng tạo, nghệ thuật không bao giờ lặp lại” (Tố Hữu) một tác phẩm chỉ đi theo lối mòn đã dẫn sẵn thì cũng sẽ chết dần chết mòn theo thời gian mà thôi, nghệ thuật không đơn thuần là sự sao chép y nguyên thực tại, mà nó đòi hỏi một cái gì đó cao hơn, phải độc đáo, mới mẻ riêng biệt và khác nó, điều đó đòi hỏi nhà văn phải có phong cách như Sê-khốp đã nói “nếu tác giả không có lối nói riêng, thì đó không phải là nhà văn, nếu nhà văn không có giọng nói riêng thì anh khó trở thành nhà văn thực thụ, văn chương không đơn giản như ta tưởng, không phải cũng có thể thưởng được. Bởi lẽ “văn chương không cần đến những người thợ khéo tay làm theo một vài kiểu mẫu đưa cho, văn chương chỉ dung nạp những người biết đào sâu, biết tìm tòi, khơi những nguồn chưa ai khơi và sáng tạo những gì chưa ai có”, tựa chung là Nguyễn Đình Thi đã đề cao tính sáng tạo trong văn chương và đây cũng là một quan điểm nghệ thuật gắn bó suốt đời cầm bút của nhà văn Nam Cao và truyện ngắn “Chí Phèo” là một ví dụ điển hình, minh chứng cho quan điểm mới mẻ đó.

Nam Cao là nhà văn hiện thực xuất sắc của nền văn học Việt Nam hiện đại, trong suốt cuộc đời lao động nghệ thuật nhà văn luôn trăn trở, sửa soạn cho cái tôi nghệ thuật của mình tiến một bước cao hơn và ngày càng hoàn chỉnh. Nam Cao không chỉ đề cao tính sáng tạo trong nghệ thuật, mà ông còn quan niệm nghệ thuật không cần là ánh trăng lừa dối, không nên là ánh trăng lừa dối, nghệ thuật chỉ là những tiếng đau khổ kia thoát ra từ những kiếp lầm than. Không những thế nam cao còn coi trọng tấm lòng nhân đạo, bác ái, vị tha và lương tâm nghề nghiệp trong mỗi tác phẩm của mình, với một quan điểm nghệ thuật tiến bộ như thế những tác phẩm của Nam Cao đã lấy đi không ít nước mắt và sự day dứt, suy nghĩ của bạn đọc. Một trong những tác phẩm đánh giấu dấu tên tuổi và gây được tiếng vang trong xã hội trước cách mạng tháng Tám năm 1945 là truyện ngắn “Chí Phèo” tác phẩm được sáng tác năm 1942 trong in trong tập “luống cày”, lần đầu có tên là “cái lò gạch” chuyện không chỉ hấp dẫn bởi bạn đọc bởi cốt truyện độc đáo, với những tình tiết gây cấn, bất ngờ bởi một Chí Phèo vừa đáng sợ vừa đáng thương mà còn bởi tài năng sáng tạo của Nam cao một sự mới mẻ độc đáo cả về nội dung, lẫn hình thức nghệ thuật.

Đề tài người nông dân là một đề tài tốn không ít giấy mực của nhiều nhà văn đương thời, ấy vậy mà Nam Cao vẫn dấn thân vào lối mòn đó nhưng cái đặc biệt là ông đã cày xới lên để tìm ra cái mới. Trước Nam Cao đã có biết bao tác phẩm viết về đề tài người nông dân đó là tiểu thuyết “Tắt Đèn” của Ngô Tất Tố viết về chị Dậu với cái khổ của sưu cao, thuế nặng, đó còn là bước đường cùng của Nguyễn Công Hoan về một anh Pha bị đẩy đến chân vực thẳm không còn đường lùi, nay đến Nam Cao ta lại bắt gặp một Chí Phèo mà cái khổ này khác hẳn với những cái khổ trước đó. Chị Dậu khổ vì phải bán con, bán chó, phải đi ở thuê nhưng chị vẫn còn được là một con người, ta không cầm được nước mắt khi đọc những trang văn của Ngô Tất Tố. Nhưng càng đau xót hơn khi bắt gặp hình ảnh Chí Phèo ngất ngưởng trong cơn say hiện lên qua cái nhìn của Nam Cao nhà văn đã phát hiện ra cái khổ nhất trong những cái khổ, còn gì khổ hơn nỗi đau này khi mà Chí Phèo sống trong cái xã hội loài người nhưng không được làm người, đó chính là bi kịch lớn nhất, bi kịch bị cự tuyệt quyền làm người.

Cuộc đời Chí Phèo thật bất hạnh từ khi sinh ra cho đến lúc trưởng thành cuộc đời Chí Phèo chỉ là một con số không tròn trĩnh, không cha, không mẹ, không nhà, không cửa, không lấy một tấc đất cắm dùi. Hắn được một anh thả ông lươn nhặt về khi bị bỏ rơi trong một cái váy rách đụp ở một cái lò gạch cũ. Chí Phèo lớn lên trong vòng tay nuôi lớn của người dân làng Vũ Đại, đến năm 20 tuổi thì đi làm canh điện cho nhà Bá Kiến, cái tuổi 20 người ta không hoàn toàn là đá cũng không hoàn toàn là người, đây có lẽ là quãng thời gian đẹp đẽ nhất chuỗi tháng năm đau khổ. Chí Phèo biết ghét, biết khinh những cái gì gọi là dâm dục tầm thường khi mà bà ba gọi hắn vào bóp chân cho bà. Chí Phèo cũng ước mơ như bao con người bình thường khác, có một gia đình nho nhỏ chồng cuốc mướn cày thuê, vợ dệt vải kha khá thì mua dăm ba sào ruộng làm vốn liếng, nhưng đời không như mơ chỉ vì một cơn ghen vô lý Bá Kiến tên gian hùm khép tiếng đã đẩy Chí Phèo vào tù tội, và cuộc đời Chí Phèo cũng ngoặt bước từ đây, hắn không còn là người dân lương thiện nữa.

Bẩy, tám năm sau khi ra tù, bộ mặt hắn giờ đây không còn mang nuốt người nữa, cái đầu thì trọc lóc, cái răng cao trắng hơn, cái mặt đen mà rất cơn cơn. Trông ghét lắm, trông gớm chết. Hắn mặc cái quần váy đen với cái áo vàng tây, ngực đầy những nét chạm trổ với hình một ông tướng cầm trùy trông gớm chết. Đây chính xác là một bộ mặt của một con vật mà như Nam Cao nhận xét “bộ mặt của một con quỷ”. Ta đau đớn thay khi một anh canh điền khỏe mạnh, hiền lành nay còn đâu, mà vẳng bên tai chỉ còn lại những tiếng chửi tục tĩu. Hắn chửi tất cả làng vũ đại, chửi ai không chửi nhau với hắn, rồi cuối cùng chửi đứa chết mẹ nào đẻ ra thân hắn cho hắn khổ đến nỗi như thế này trời? cũng là một nhu cầu giao tiếp nhưng tiếc thay đáp lại lời hắn chỉ là những tiếng chó sủa. Nếu có ai đáp lại hắn thì chí còn là người. Nhưng không có một ai, qua tiếng chửi ta nhận thấy thái độ thái độ phẫn uất của Chí Phèo khi phần nào nhận thức được thân phận của mình, hắn đã bị đánh tụt từ hàng người xuống hàng vật. Bị loại ra xã hội loài người càng đau thương hơn nữa khi Chí Phèo bị bá Kiến mua chuộc làm tay sai là từ đây Chí Phèo trượt dài trên con đường lưu manh hóa, hắn sống bằng máu và nước mắt của biết bao người dân vô tội. bi kịch bi cự tuyệt quyền làm người dẫn đến con đường lưu manh hóa của Chí Phèo tưởng chừng như kéo mãi đến lúc cuối đời, nhưng Nam Cao đã không như thế.

Tưởng chừng như Chí Phèo sẽ sống mãi trong trạng thái say triền miên, ăn, ngủ, hại người trong lúc say. nhưng Nam Cao đã xây dựng một điểm dừng cho nhân vật của mình thẳm sâu trong tâm hồn của con quỷ dữ của Làng Vũ Đại phần người vẫn tiềm tày chỉ đợi phát hiện và khai sáng. Và Nam Cao đã tinh tế nhận ra điểm tốt đẹp đó trong tâm hồn của một con người tưởng như không thể ngóc đầu dậy được nữa, đây cũng chính là một tư tưởng nhân đạo mới mẻ của nhà văn Nam Cao mở ra cho Chí Phèo một cánh cửa thiên lương bằng cách đưa Thị Nở bước vào cuộc đời Chí Phèo rất mộc mạc, tự nhiên.

Trong một cơn say Chí Phèo đã ăn nằm với Thị Nở, nửa đêm hắn nôn mửa nên đã được Thị Nở dìu vào trong lều. Sáng hôm sau Chí Phèo tỉnh dậy lần đầu tiên hắn tỉnh rượu, lòng mơ hồ buồn như tỉnh lại sau một cơn say dài và cũng là lần đầu tiên Chí Phèo nhận thức được cuộc đời mình trong quá khứ, hiện tại và cả tương lai. hắn nghe được ngoài kia tiếng chim hót ríu rít, tiếng Anh thuyền chài gõ mái, tiếng mấy người đàn bà đi chợ về, những âm thanh ấy hôm nào chả có. Nhưng sao giờ đây Chí Phèo mới nhận thấy vì có khi nào hắn tỉnh để mà cảm nhận âm thanh ấy giống như tiếng sáo của đêm tình mùa xuân trong tác phẩm “Vợ chồng A Phủ” nhà văn Tô Hoài. Tiếng sáo deo rắt, đánh thức, lay động con người đã khô héo trong Mị giờ đây những âm thanh sao động này lại gợi cho Chí Phèo nhớ về một cái gì đó rất xa xôi. Hình như có một thời hắn đã ao ước có một gia đình đầm ấm để rồi phải hối tiếc khi giờ đây nhận ra mình đã đến cái dốc bên kia tuổi già, đói rét, bệnh tật, ốm đau hắn không sợ. Nhưng sợ nhất là cô độc, nhưng hắn nghĩ Thị Nở sẽ xoa lấp nỗi cô đơn ấy khi Thị Nở mang bát cháo hành tới.

Lần đầu tiên được một người đàn bà cho hắn xúc động mắt ươn ướt khi ăn bát cháo hành. Thị Nở là cầu nối đưa Chí Phèo trở về với thế giới lương thiện, nhưng cánh cửa lương thiện vừa mở ra đã đóng sập lại khi Thị Nở chửi tất cả những lời bà cô vào mặt hắn. Chí Phèo từ ngạc nhiên đến thất vọng nhưng chưa tuyệt vọng, hắn Chí Phèo chạy theo nắm lấy tay Thị Nở. Nhưng đáp lại là một cái dúi mạnh, lúc này Chí Phèo mới đau khổ, tuyệt vọng tột cùng, hắn mơ hồ nhận ra là đã làm cuộc đời mình rơi vào vực thẳm là Bá Kiến. Chí Phèo xách dao kết liễu đời Bá Kiến và cũng tự sát khi miệng vẫn nhan nhản “ai cho tao lương thiện”. Cái chết của bá Kiến như một lý tất yếu mà Nam Cao vạch ra “ở đâu có áp bức, ở đó có đấu tranh, tức nước thì vỡ bờ”.

Không chỉ mới mẻ về nội dung, mà còn mới mẻ về hình thức nghệ thuật. Nam Cao đã thành công khi xây dựng nhân vật điển hình trong hoàn cảnh điển hình, nghệ thuật miêu tả diễn biến tâm lí nhân vật một cách tỉ mỉ, tinh tế. Cách vào truyện độc đáo không theo kết cấu thời gian, mà đi theo mạch kể chuyện tự nhiên, kết hợp với đó là ngôn ngữ tự nhiên, ngôn ngữ tác giả kết hợp với ngôn ngữ nhân vật. Tất cả đã làm nên một kiệt tác của nền văn học hiện thực Việt Nam.

(Nguồn:Tapchivanmau.com)

Đọc thêm: Chuyên đề Văn học hiện thực 1930 –

Chí Phèo hấp dẫn bởi cách nhìn nhận một tình cảm mới

Tags
Show More

Related Articles

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Close