Bài văn hay THPTNGỮ VĂN 11Những bài văn hay

Cái đẹp trong Chữ người tử tù

Chữ người tử tù là một truyện ngắn hàm ẩn nhiều cái đẹp bên trong nó, từ người tù cá tính đến viên quản ngục biết thưởng thức cái đẹp và cảnh cho chữ, giữa họ giống như tri âm, tri kỷ của nhau dù tiếc là gặp nhau quá muộn. Cảnh cho chữ vì vậy càng thêm thiêng liêng đáng trân trọng biết bao. Người tạo ra cái đẹp đáng quý, người bảo vệ, thưởng thứ, tri âm nó cũng đáng quý không kém.
Cảnh cho chữ ấy càng giống như sản phẩm một cuộc trao – nhận khiến ta nghĩ tới mối quan hệ giữa người nghệ sĩ, nhà văn với công chúng, bạn đọc hiện nay.

Trước hết cái đẹp ấy được thể hiện qua lối viết chữ Hán. Chính lối viết ấy nói lên thú vui tao nhã của một thời giờ chỉ còn vang bóng lại. Dù cho chữ ấy không phải là của Việt Nam nhưng nó đã một thời trở thành ngôn ngữ của ta và giúp cho những nhà văn nhà thơ thể hiện mình qua những lối viết chữ ấy. Chữ viết này là một lối chữ viết tượng hình, viết trong hình vuông. Nó dành riêng cho những tao nhân mặc khách. Chính vì đặc điểm của chữ mà ai viết được đẹp thì sẽ được người khác biết đến. Qua đây ta thấy tác giả không phân biệt của ta hay của tàu miễn sao nó đẹp thì Nguyên Tuân ca ngợi. Thứ chữ ấy được viết bằng bút lông mực tàu, có nét thanh nét đâm, nét mềm mại, nét gân guốc hài hòa cân đối. Chữ viết ấy có bốn kiểu viết chính đó là: chân, thảo, triện, lệ. Chữ viết được viết trên lụa trắng và trên gỗ và được treo ở vị trí quan trọng nhất trong nhà.

Không những thế cái đẹp trong tác phẩm này còn thể hiện ở nét đẹp của con người mà cụ thể ở đây là nhân vật Huấn Cao và Quản Ngục. Điểm chung của họ là đều có một tấm lòng thiên lương trong sáng và đặc biệt dù hoàn cảnh khác nhau nhưng đều chung một điều là ưa chuộng cái đẹp, quý trọng những người có tài có thiên lương.

Thông qua câu chuyện “Chữ người tử tù” nhà văn Nguyễn Tuân đã ca ngợi những con người tài đức đó là những con người dù có rơi vào hoàn cảnh nghiệt ngã khốn cùng nào vẫn giữ được cái “thiên lương” cao đẹp, sống hiên ngang, bất khuất, không hề bị khuất phục trước uy quyền và bạo lực. Câu chuyện là một khẳng định sự bất tử của cái đẹp.

1. Nhân vật Huấn Cao:

– Xây dựng nhân vật Huấn Cao, Nguyễn Tuân dựa vào nhân vật cụ thể Cao Bá Quát. Cao Bá Quát là một con người thông minh, học giỏi nổi tiếng, rất mực tài hoa, văn hay, chữ tốt nhưng ông không chấp nhận cái triều đại phong kiến thối nát lúc bấy giờ nên đã lãnh đạo phong trào nông dân khởi nghĩa chống lại triều đình. Về cái chết của ông có hai ý kiến khác nhau: có ý kiến cho rằng ông đã hy sinh trong chiến trận, có ý kiến khác lại cho rằng ông đã bị bắt và bị xử trảm. Điều này cho ta thấy được tấm lòng rất trân trọng của Nguyễn Tuân đối với những người anh hùng đã hy sinh vì nghĩa lớn. Qua đó, ta thấy được tấm lòng ưu ái của ông đối với đất nước.
– Huấn Cao là một người nghệ sĩ chân chính rất mực tài hoa, hiếm có trong nghệ thuật thư pháp. Ông “viết chữ rất nhanh và đẹp”. Chữ viết của ông đã trở thành những bức tranh nghệ thuật và là niềm khao khát của những con người say mê cái đẹp: “có được chữ ông Huấn Cao mà treo là có một vật báu trên đời”. Nhưng Huấn Cao là một con người sống có nhân cách, biết tự trọng. Ông luôn luôn đặt chữ tâm trên chữ tài, trên cả bạc vàng, địa vị: “Ta nhất sinh không vì vàng ngọc hay quyền thế mà phải ép mình viết câu đối bao giờ”. Cho nên xin đượ chữ của ông không phải là chuyện dễ, không phải ai cũng xin được trừ ba người bạn tri âm, tri kỷ của ông: “Tính ông vốn khoảng, từ chỗ tri kỷ, ông ít chịu cho chữ”. Tuy vậy, nhưng khi ông “thấy cái tấm lòng biệt nhỡn liên tài” của viên quản ngục thì ông lại bằng lòng cho chữ “nào ta có biết đâu một người thầy Quản đây mà lại có những sở thích cao quý như vậy. Thiếu chút nữa, ta đi phụ mất một tấm lòng trong thiên hạ”.
Những lời khuyên của Huấn Cao với viên quản ngục đã thể hiện rõ quan điểm thống nhất giữa cái tâm và cái tài, giữa cái đẹp và cái thiện: “Ta khuyên thầy Quản nên thay chốn ở đi. Chỗ này không phải là nơi để treo một bức lụa trắng với những nét chữ vuông tươi tắn nó nói lên những hoài bão tung hoành của một đời con người”, “tôi bảo thực đấy, thầy Quản nên tìm về nhà quê mà ở đã, thầy hãy thoát khỏi cái nghề này đi đã, rồi hãy nghĩ đến chuyện chơi chữ. Ở đây, khó giữ cái thiên lương cho lành vững và rồi cũng đến nhem nhuốc mất cả đời người lương thiện đi”. Lời khuyên chân thành này của Huấn Cao đã gây xúc động mạnh và cảm hoá được viên quản ngục: “Ngục quan cảm động, vái người tử tù một cái, chắp tay nói một câu mà dòng nước mắt rỉ vào kẽ miệng làm cho nghẹn ngào: “kẻ mê muội này xin bái lĩnh””.
– Huấn Cao là một người anh hùng, đầy khí phách, sống hiên ngang không hề khuất phục trước uy quyền và bạo lực: Huấn Cao là một lãnh tự của phong trào nông dân khởi nghĩa, ngang nhiên chống lại triều đình, Khi bị bắt, cổ đeo gông, bị giải vào nhà lao chờ ngày xử chém ông vẫn ung dung, không hề sợ sệt: “Huấn Cao đứng đầu gông, quay cổ lại bảo mấy bạn đồng chí : rệp cắn tôi, đỏ cả cổ lên rồi. Phải dỗ gông đi”. Lời viên quản ngục nói với thầy thơ lại càng làm nổi bật cái tài và cái khí phách của Huấn Cao: “Thầy có nghe người ta đồn Huấn Cao ngoài cái tài viết chữ tốt, lại còn có tài bẻ khoá và vượt ngục nữa không?”. Trong tù “Huấn Cao vẫn thản nhiên nhận rượu thịt, coi như đó là một việc vẫn làm trong cái hứng bình sinh lúc chưa bị giam cầm”, Huấn Cao còn khinh bỉ viên quản ngục, kẻ nắm trong tay quyền lực có thể hành hạ, đánh đập mình vì ông những tưởng viên quản ngục này cũng như bao nhiêu viên quản ngục khác. Thái độ khinh bỉ của ông được thể hiện khá rõ trong câu trả lời câu hỏi của viên quản ngục: “Vậy ngài có cần thêm gì nữa xin cho biết. Tôi sẽ cố gắng chu tất”, “Ngươi hỏi ta muốn gì? Ta chỉ muốn có một điều. Là nhà ngươi đừng đặt chân vào đây”.
Huấn Cao là một con người rất yêu cái đẹp, cái thiện. Chính vì vậy mà ông cảm thông được tấm lòng biết yêu cái đẹp của viên quản ngục, cho chữ viên quản ngục. Và cũng chính vì có quan niệm thống nhất giữa cái đẹp và cái thiện nên Huấn Cao đã khuyên viên quản ngục nên về quê, rời bỏ cái nghề quản ngục để giữ lấy cái đẹp và cái thiện. Tóm lại, Huấn Cao là một nhân vật toát lên một vẻ đẹp khá toàn diện. Ông vừa là một con người rất mực tài hoa vừa là một con người hiên ngang khí phách, sống với một mục đích, lý tưởng cao đẹp bất chấp cả uy quyền và bạo lực. Ông luôn luôn đặt chữ “tâm” trên chữ “tài” và có quan niệm thống nhất giữa cái đẹp và cái thiện. Cái đẹp và cái thiện phải luôn luôn đi đôi với nhau, gắn bó mật thiết với nhau, không thể tách rời nhau được. Huấn Cao quả là một nhân vật thật lý tưởng.

2. Nhân vật viên quản ngục

Viên quản ngục là một con người biết quí trọng kẻ tài đứng: khi mới nghe sáng mai lính tỉnh sẽ dẫn đến sáu tên tù án chém, trong đó có Huấn Cao thì lòng viên quản ngục cảm thấy băn khoăn, thương tiếc: “Nơi góc chiếc án thư cũ đã nhạt màu vàng son một cây đèn để leo lét rọi vào một khuôn mặt nghĩ ngợi. Ngục quan băn khoăn ngồi bóp thái dương”. Đêm đã về khuya, nhưng “nơi góc chiếc án thư vàng son đã nhợt, đã mờ, đĩa dầu sở trên cây nến vơi lần mực dầu” viên quản ngục vẫn ngồi đấy, rất hiền từ. Hình ảnh: “đầu đã điểm hoa râm, râu đã ngả màu. Những đường nhã nheo của một bộ mặt tư lự, bây giờ đã biến mất. Ở đấy, giờ chỉ còn là mặt nước ao xuân, bằng lặng, kín đáo và êm nhẹ” của viên quản ngục chính là bản chất lương thiện vốn có của ông, cái bản chất mà bấy lâu nay sống trong cái cảnh tối tăm của đề lao với việc coi ngục của ông đã bị che lấp đi. Huấn Cao xuất hiện như một nguồn ánh sáng, khơi dậy lại trong ông cái bản chất lương thiện của ông. Và chính tác giả đã khẳng định: “Trong hoàn cảnh đề lao, người ta sống bằng tàn nhẫn, bằng lừa lọc, tính cách dịu dàng và lòng biết giá người, biết trọng người ngay của viên quan coi ngục này là một thanh âm trong trẻo chen vào giữa một bản đàn mà nhạc luật đều hỗn độn xô bồ”.
Chính cái bản chất vốn có của viên quản ngục được đánh thức nên : “Viên quản ngục nhìn sáu tên tù mới vào với cặp mắt hiền lành. Lòng kiêng nể ngục quan còn có biệt nhỡn đối riêng với Huấn Cao” và ngày ngày cho người thơ lại mang rượu thịt vào cho Huấn Cao. Khi ông bị Huấn Cao thốt lên câu nói đầy khinh bạc: “Ngươi hỏi ta muốn gì? Ta chỉ muốn có một điều. Là nhà ngươi đừng đặt chân vào đây “. Viên quản ngục vẫn nhẫn nhục chịu đựng với bao nỗi khổ tâm và lễ phép chấp nhận lui ra với câu nói “xin lĩnh ý”. Điều đó đã cho ta thấy tấm lòng kính trọng của viên quản ngục đối với những người có tài như ông Huấn Cao, đồng thời cũng thể hiện niềm khát khao mãnh liệt của viên quản ngục mong có được chữ viết của ông Huấn Cao. Theo ông có được chữ viết ấy là có được “một báu vật trên đời”. Trong cảnh cho chữ, ta thấy thái độ của viên quản ngục thật trân trọng, đầu óc của ông như căng ra đầy xúc động: “người tù viết xong một chữ, viên quản ngục lại vội khúm núm cất những đồng tiền kẽm đánh dấu ô chữ trên mặt phiến lụa óng”. Sau khi được Huấn Cao cho chữ và khuyên bảo, viên quản ngục càng xúc động, nức nở, nghẹn ngào, xin nghe theo lời dạy của Huấn Cao: “Ngục quan cảm động, vái người tù một cái, chắp tay nói một câu mà dòng nước mắt rỉ vào kẽ miệng làm cho nghẹn ngào: “kẻ mê muội này xin bái lĩnh””. Quả đúng như điều nhà văn đã nói ở trên: “Ông trời nhiều khi chơi ác đem đày ải những cái thuần khiết vào giữa một đống cặn bã. Và người thẳng thắn, lại phải ăn đời ở kiếp với lũ quay quắt”. Nhưng ta tin một điều là viên quản ngục sẽ về quê, từ bỏ cái nghề coi ngục để giữ “thiên lương cho lành vững” và vui với cái đẹp như ông Huấn Cao mong muốn.
Tóm lại, tuy sống bằng cái nghề độc ác, tàn bạo, nhưng viên quản ngục là một con người biết quý trọng kẻ có tài, biết yêu cái đẹp, trân trọng với cái đẹp, biết nghe theo lời khuyên bảo của Huấn Cao để trở về với cái thiện và giữ lấy cái đẹp.

3. Cảnh cho chữ :

Cảnh cho chữ diễn ra ở cái thời điểm đêm đã về khuya và trong một cái không gian chật hẹp, tối tăm của nhà ngục với “một cảnh tượng xưa nay chưa từng có, đã bày ra trong một buồng tối chật hẹp, ẩm ướt, tường đầy mạng nhện, đất bừa bãi phân chuột, phân gián”. Trong cảnh này, tác giả đã khéo tạo những hình ảnh đối lập. Thứ nhất là sự đối lập giữa cái đẹp của “tấm lụa trắng tinh”, “phiến lụa óng”, “nét chữ vuông tươi tắn”, thoi mực thơm” với cái dơ dáy, bẩn thỉu của “buồng tối chật hẹp, ẩm ướt, tường đầy mạng nhện, đất bừa bãi phân chuột, phân gián”. Thứ hai là sự đối lập giữa hình ảnh người tù “cổ đeo gông, chân vướng xiềng đang dậm tô nét chữ trên tấm lụa trắng tinh căng trên mảnh ván” với hình ảnh viên quản ngục “khúm núm” và thầy thơ lại gầy gò “run run bưng chậu mực”.
Sự đối lập thứ nhất cho ta thấy giữa cái ác, nơi tăm tối của nhà ngục cái đẹp vẫn sống, không hề bị tiêu diệt. Trong sự đối lập thứ hai ta thấy một sự chuyển hoá quyền lực. Viên quản ngục nắm trong tay quyền hành hạ, đánh đập Huấn Cao lại trở thành “khúm núm” trước Huấn Cao. Đó phải chăng chính là sức mạnh của cái đẹp, cái thiện đã chiến thắng cái xấu cái ác.
Điều cuối cùng trong cảnh cho chữ là lời Huấn Cao khuyên bảo viên quản ngục: “Thầy Quản nên về nhà quê mà ở đã, thầy hãy thoát cái nghề này đi đã, rồi hãy nghĩ đến chuyện chơi chữ. Ở đây, khó giữ thiên lương cho lành vững và rồi cũng đến nhem nhuốc mất cả đời lương thiện đi” và thái độ cảm động của viên quản ngục trước lời khuyên đó và hứa nghe theo “kẻ mê muội này xin bái lĩnh”. Đây là một điều có nghĩa thật vô cùng sâu sắc và độc đáo. Phải chăng với điều này tác giả như muốn nói với chúng ta rằng: giữa cái ác, cái đẹp vẫn không bị tiêu diệt, nhưng cái đẹp không thể sống chung với cái ác, cái đẹp vẫn phải đi đôi với cái thiện. Muốn thưởng thức cái đẹp tâm hồn con người phải có lương thiện, trong sáng, thanh cao.

Phân tích vẻ đẹp của hình tượng nhân vật Huấn Cao trong truyện ngắn Chữ người tử tù của Nguyễn Tuân

1. Trong vườn văn học Việt Nam, đặc biệt là trong trào lưu văn học lãng mạn 1930 – 1945 tỏa ngát những bông hoa muôn màu, muôn sắc. Giữa vườn hoa ngàn sắc tía đó nổi lên một bông hoa ngát hương: Vang bóng một thời của Nguyễn Tuân – tác phẩm viết về “một thời” đã qua nay chỉ còn “vang bóng”. Trong Vang bóng một thời, truyện ngắn Chữ người tử tù có một giá trị riêng, nổi bật. Ai đã từng đọc Chữ người tử tù đều rung động, cảm phục, sùng kính trước vẻ đẹp của người anh hùng sa cơ lỡ vận mà hiên ngang, bất khuất, có tài, có tâm, mến mộ nghĩa khí, đó là Huấn Cao. Huấn Cao là kết tinh, là hội tụ phẩm chất của một con người có nhân, dũng, khí. Ông là tập hợp của tất cả những gì tinh túy nhất, thanh tao nhất, tinh khiết nhất.
2. Nhân vật Huấn Cao được sáng tạo từ một nguyên mẫu có thực trong cuộc đời: đó là nhà thơ Cao Bá Quát anh hùng khí phách lại nổi tiếng viết chữ đẹp một thời. Nguyên mẫu vốn đã đẹp, nhưng khi đi vào tác phẩm, nhờ điển hình hoá nghệ thuật, đã trở thành một hình tượng nhân vật lung linh tỏa sáng với ba vẻ đẹp rực rỡ chói loà: vẻ đẹp của tài hoa; của khí phách hiên ngang bất khuất, của “thiên lương” trong sáng. Ba vẻ đẹp này không tách rời nhau mà gắn bó chặt chẽ với nhau để làm nên vẻ đẹp của nhân vật lí tưởng của Nguyễn Tuân. Và nhà văn, với nghệ thuật già dặn, khi miêu tả trực tiếp, lúc miêu tả gián tiếp, lúc đặc tả thành ấn tượng nổi bật, luôn đặt nhân vật vào những tình huống nổi bật, luôn đặt vào nhân vật vào những tình huống để thử thách và trong quan hệ đối sánh với viên quản ngục và thầy thơ lại… tất cả đã làm bật nổi lên vẻ đẹp của nhân vật Huấn Cao.
a) Huấn Cao là một con người tài hoa khác thường. Ông viết chữ rất đẹp. Đây là viết chữ Hán, một nghệ thuật, một thú chơi tao nhã của người xưa gọi là thư pháp. Người ta treo chữ đẹp (hoặc viết trên lụa, hoặc khác trên gỗ phủ sơn mài) trong nhà, nơi trang trọng nhất như treo những bức họa quí. Tài viết chữ của Huấn Cao như thế nào, cứ xem thái độ của viên quản ngục thì rõ: “Biết đọc vỡ nghĩa sách thánh hiền, từ những ngày nào, cái sở nguyện của viên quan coi ngục này là có một ngày kia treo ở nhà riêng mình một câu đối do tay ông Huấn Cao viết.
“Chữ ông Huấn Cao đẹp lắm, vuông lắm (…) có được chữ ông Huấn Cao mà treo là có một vật báu trên đời“. Tất nhiên, chữ ông Huấn Cao phải đẹp lắp, quý lắm thì viên quản ngục và thầy thơ lại mới phải kiên trì và dụng công đến như thế trong cách đối xử “biệt nhỡn” đối với ông để mong được ông cho chữ. Mà đâu phải chỉ có kiên trì và công phu. Còn phải dũng cảm nữa. Bởi vì biệt đãi một tên tử tù là một việc làm rất nguy hiểm. Mới biết chữ ông Huấn Cao đẹp đến chừng nào qua ước mơ và hành động của viên quản ngục.
b) Huấn Cao cũng là một con người có khí phách khác thường. Một tử tù chỉ đợi ngày ra pháp trường mà không hề tỏ ra nao núng, vẫn ung dung đường hoàng. “Đến cái cảnh chết chém, ông còn chẳng sợ nữa là …”. Khí phách anh hùng của Huấn Cao cũng được làm nổi rõ trong quan hệ với viên quản ngục. Viên quản coi tù này hoàn toàn có quyền dùng những thủ đoạn tàn bạo đối với ông, nhưng ông chẳng những không sợ mà còn “cố tình làm ra khinh bạc đủ điều”. Ngục quan vào gặp ông trong nhà giam “khép nép” hỏi: “Vậy ngài có cần thêm gì nữa xin cho biết. Tôi sẽ cố gắng chu tất“, ông trả lời thẳng: “Người hỏi ta muốn gì? Ta chỉ muốn có một điều. Là nhà ngươi đừng đặt chân vào đây”. Một tử tù mà đáp lại lời cầu xin của ngục quan như vậy, xưa nay thật hiếm có. Nhưng quản ngục chẳng những không nổi nóng mà còn tỏ ra kính nể hơn nữa, bởi vì “y cũng thừa hiểu những người chọc trời khuấy nước, đến trên đầu người ta, người ta cũng còn chẳng biết có ai nữa, huống chi cái thứ mình chỉ là một kẻ tiểu lại giữ tù”.
c) Tuy nhiên Huấn Cao không phải là con người có trái tim bằng thép. Đúng là tiền bạc và quyền thế không lung lạc được ông. Ngay cả việc cho chữ cũng vậy, ông đã nói: “Ta nhất sinh không vì vàng ngọc hay quyền thế mà phải ép mình viết câu đối bao giờ“. Cho nên khi tưởng rằng người quản ngục trong cái trại giam này cũng giống như mọi tên quản ngục khác, nghĩa là kẻ đại diện thô bạo của quyền lực phi nghĩa, thì ông tỏ ra hết sức cứng rắn. Nhưng khi hiểu rằng đây là một tâm hồn trong sáng lạc vào giữa đám người “cặn bã”, ông liền thay đổi thái độ. Hoá ra con người ấy cũng có lúc mềm lòng: “Ta cảm cái tấm lòng biệt nhỡn liên tài của các người. Nào ta có biết đâu một người như thầy quản đây mà lại có những sở thích cao quý như vậy. Thiếu chút nữa, ta đã phụ mất một tấm lòng trong thiên hạ“. Đây là cái mềm lòng của một “thiên lương” trong sáng, một “chữ tâm” cao cả đã khiến Huấn Cao sẵn sàng cho chữ ngục quan – dòng chữ cuối cùng của một đấng tài hoa và một bậc anh hùng nghĩa sĩ. Và ta hiểu ông cho chữ ngục quan không chỉ vì mục đích chơi chữ đơn thuần, mà chủ yếu là cho chữ để cứu người, cứu một con người đã lầm đường lạc lối, như ta đã thấy trong cảnh cho chữ ở cuối truyện.
d) Ba vẻ đẹp nói trên – tài hoa, khí phách, thiên lương – của nhân vật đã được đẩy lên đến đỉnh cao và bộc lộ sáng lòa trong hình tượng lẫm liệt của Huấn Cao cho chữ viên quản ngục. Cảnh cho chữ được nhà văn đặc tả thành “một cảnh tượng xưa nay chưa từng có” ở chốn lao tù đã tôn cao vẻ đẹp của nhân vật và bộc lộ sâu sắc chủ đề tác phẩm. “Trong một không khí khói tỏa như đám cháy nhà, ánh sáng đỏ rực của một bó đuốc tẩm dầu rọi lên ba cái đầu người đang chăm chú trên một tấm lụa bạch còn nguyên vẹn lần hồ (…). Một người tù, cổ đeo gông, chân vướng xiềng, đang đậm tô nét chữ trên tấm lụa trắng tinh (…) Người từ viết xong một chữ, viên quản ngục lại vội khúm núm cất những đồng tiền kẽm đánh dấu ô chữ đặt trên phiến lụa óng. Và cái thầy thơ lại gầy gò, thì run run bưng chậu mực (…) Huấn Cao thở dài, buồn bã đỡ viên quản ngục đứng thẳng người dậy và đĩnh đạc bảo:
– Ở đây lẫn lộn. Ta khuyên thầy Quản nên thay chốn ở đi (…). Thoi mực, thầy mua ở đâu tốt và thơm quá. Thầy có thấy mùi thơm ở chậu mực bốc lên không? …. Tôi bảo thực đấy: thầy Quản nên tìm về nhà quê ở đã, thầy hãy thoát khỏi cái nghề này đi đã, rồi hãy nghĩ đến chuyện chơi chữ. Ở đây, khó giữ thiên lương cho lành vững và rồi cũng đến nhem nhuốc mất cái đời lương thiện đi”.
Đoạn văn đã sử dụng thành công bút pháp đối lập: đối lập ánh sáng và bóng tối, cái đẹp và sự bẩn thỉu hôi hám. Và người tử tù, tuy cổ đeo gông, chân vướng xiềng, nhưng tư thế thì hiên ngang lồng lộng trước sự khúm núm đầy cảm phục của người quản ngục. Đó là sự chiến thắng của cái tài, cái đẹp, cái thiên lương kết tinh cao độ ở hình tượng lẫm liệt của Huấn Cao đối với bóng tối, sự nhơ bẩn của một xã hội phi nghĩa. Và khi người quản ngục vái người tử tù một vái, chắp tay nghẹn ngào nói: “Kẻ mê muội này xin bái lĩnh” thì không phải chỉ là tạ ơn người đã cho chữ mình mà là vái một nhân cách đẹp: vẻ đẹp của tài hoa, của khí phách anh hùng và của thiên lương trong sáng cao cả.
3. Ba vẻ đẹp trên đây hội tụ ở một con người đã làm nên vẻ đẹp của nhân vật lí tưởng trong tác phẩm của Nguyễn Tuân: con người tài hoa – khí phách. Với hình tượng Huấn Cao, Nguyễn Tuân đã sáng tạo được một nhân cách kiêu dũng, bất khuất trong vị thế một người tử tù trong một truyện ngắn trang nghiêm, cổ kính. Hình tượng ấy, không chỉ biểu lộ cái tài, mà còn biểu lộ sâu
Chung quy lại, dựng nên hình tượng ông Huấn Cao với vẻ đẹp rực rỡ, tráng lệ giữa chốn lao tù ẩm thấp, chật chội, Nguyễn Tuân đã thể hiện niềm cảm phục sâu sắc đối với những anh hùng xả thân vì nghĩa lớn. Nhà văn đã sử dụng ngòi bút tả thực đầy kịch tính kết hợp việc khắc họa tính cách nhân vật và ngòi bút miêu tả phong cảnh nặng tính hiện thực lẫn lãng mạn. Những chi tiết lãng mạn trong truyện có lẽ là lời nhắn gửi của Nguyễn Tuân. Hãỵ vững tin vào cái đẹp như Biêlinski nhận xét về cảm hứng lãng mạn: “Cảm hứng lãng mạn là khát vọng đối với tất cả những đẹp đẽ và cao quí”. Có thể nói Chữ người tử tù với bút pháp sắc sảo khi dựng người dựng cảnh với ngôn ngữ văn xuôi giàu có và góc cạnh, với vẻ đẹp tuyệt vời của Huấn Cao, tác phẩm xứng đáng là một áng văn chương một thời vang bóng và nó mãi mãi “vang bóng” trong bạn đọc nhiều thời.
***
Cái đẹp trong Chữ người tử tù - Nguyễn Tuân - Văn học trẻ Cái đẹp trong Chữ người tử tù
Cái đẹp trong Chữ người tử tù – Nguyễn Tuân – Văn học trẻ

SỨC MẠNH CỦA CÁI ĐẸP TRONG CHỮ NGƯỜI TỬ TÙ CỦA NHÀ VĂN NGUYỄN TUÂN (SGK Ngữ văn lớp 11, tập 1)

Nhà văn thiên tài người Pháp thế kỉ XIX Vích-to Huy-gô đã từng cho rằng: Tác phẩm nghệ thuật ưu tú là tác phẩm đạt đến tính tuyệt đối. Nghĩa là nghệ thuật không chấp nhận cái bình thường, tầm thường mà phải luôn tìm kiếm và vươn tới cái hoàn mĩ, cái cao cả. Có lẽ khi viết Chữ người tử tù, một truyện ngắn mang đầy đủ những yếu tố đặc trưng của văn học lãng mạn, nhà văn Nguyễn Tuân cũng đã từng nghĩ tới nhận định ấy. Nếu Vích-to Huy-gô xem cái tầm thường giết chết nghệ thuật thì suốt đời Nguyễn Tuân theo đuổi và tôn thờ cái đẹp, đưa nó lên như một thứ tôn giáo, một thứ tín ngưỡng và niềm tin. Là nhà văn của chủ nghĩa duy mĩ, thích cái đẹp, cái độc đáo, thích sự cầu kì, Nguyễn Tuân đã tạo cho mình một thế giới những nhân vật đặc biệt, những hoàn cảnh đặc biệt và những cá tính không lặp lại. Dẫu nhiều độc giả có đôi lúc cũng tỏ ra khó chịu vì sự quá mức cầu kì trong câu chữ, trong những hình ảnh và hoàn cảnh được chọn lựa, song hiếm có ai không trân trọng sự lao động nghệ thuật một cách nghiêm túc, đầy công phu của nhà văn họ Nguyễn. Đọc Chữ người tử tù, ta như được phiêu lưu trong một thế giới chứa đầy và đan xen những xúc cảm đặc biệt: Từ hồi hộp theo dõi cuộc gặp gỡ của những con người đặc biệt đến lo lắng cho sự chạm trán của những địa vị trái ngược, những thân phận không thể dung hòa và vỡ òa trong cảm xúc vui sướng trước sự lên ngôi của cái đẹp, cái thiện, cái văn hóa, dẫu đâu đây còn có nỗi niềm bâng khuâng, tiếc thương cho sự ra đi của một kiếp người tài hoa. Cái đẹp quả thực có sức mạnh phi thường, giúp con người ta vươn tới, hướng về, níu giữ tính người cho con người, giữ mãi trong ta cái cốt lõi của tính nhân bản. Hình tượng Huấn Cao, viên quản ngục quả thực đã để lại trong ta những dư vị khó quên về sức mạnh của cái đẹp, cái văn hóa!

1) Cái đẹp vươn tới, hướng về, níu giữ bản tính tốt đẹp cho con người

Hình tượng ngôi sao chính vị của tác phẩm – Huấn Cao quả thực đã được Nguyễn Tuân xây dựng như là biểu tượng cho sự hoàn mĩ. Con người ấy không chỉ đẹp từ lí tưởng sống, tài năng, khí phách, bản lĩnh mà còn ở tấm lòng và sự tài hoa. Sự xuất hiện của Huấn Cao ở trại tù tỉnh Sơn quả thực là một sự kiện được mong đợi. Người ta trông chờ sẽ gặp ở đây một kẻ chọc trời quấy nước, một kẻ văn võ song toàn, mang vẻ đẹp từ lí tưởng, hoài bão đến hành động. Và hơn hết, trong cuộc gặp gỡ này, người ta mong chờ được thấy Huấn Cao – một con người tài hoa, nức danh trong nghệ thuật viết chữ đẹp, bởi cả vùng tỉnh Sơn vẫn khen cái tài viết chữ rất nhanh và rất đẹp. Sự xuất hiện của ông Huấn ở nhà ngục tỉnh Sơn quả thực đã đáp ứng được những nỗi niềm mong mỏi ấy. Cái hành động dỗ gông ở cửa nhà lao mà không thèm đếm xỉa gì đến lời nói của bọn lính, cái thái độ thản nhiên, ngạo nghễ nhận rượu thịt trong nhà lao xem như đó là những việc vẫn thường làm trong cái hứng sinh bình lúc chưa bị giam cầm và đặc biệt là lời nói khinh bạc với viên quản ngục khi ông ta có ý định giúp đỡ: Ngươi hỏi ta muốn gì? Ta chỉ muốn có một điều. Là nhà ngươi đừng đặt chân vào đây. Quả thực tất cả đều toát lên khí phách của một bậc trượng phu, quân tử. Đó là con người của chí khí, lí tưởng và hành động. Tất cả là dáng dấp của con hổ chốn rừng xanh. Dẫu cho bây giờ, vị chúa tể sơn lâm ấy đang bị giam cầm thì có lẽ cái chốn nhà ngục tỉnh Sơn ấy cũng không mang nhiều ý nghĩa hơn một chốn dừng chân thông thường. Cái đẹp của sự tài hoa chưa xuất hiện như những lời đồn đại trước đó, song sự hiện diện của Huấn Cao đã làm thức dậy ở viên quản ngục những ấp ủ về khát vọng vươn tới cái đẹp. Đêm hôm ấy, tại nhà tù tỉnh Sơn, người ta thấy những xao động kín đáo, êm nhẹ đã bắt đầu xuất hiện trên khuôn mặt như mặt nước ao thu bằng lặng của viên quản ngục. Cái ao ước sở hữu dòng chữ Huấn Cao vốn lâu nay ở viên quản ngục chỉ là dòng suối âm thầm, róc rách chảy thì giờ đây, sự xuất hiện của ông Huấn đã khơi thông dòng chảy ấy để nó trở nên tuôn trào mãnh liệt. Cái đẹp của nghệ thuật có thể khiến cho con người trở nên bất tử và cũng có thể giúp cho con người vươn tới, hướng về, níu giữ mãi mãi tính người. Hình tượng Huấn Cao không chỉ thức dậy ở viên quản ngục khao khát cái đẹp đã được ấp ủ từ lâu, nó còn đưa lại cho ông ta sức mạnh, lòng can đảm để theo đuổi khát vọng và đam mê. Cái đêm cho chữ ở trại tù tỉnh Sơn quả thực là một sự nổi loạn. Tất cả cái tối tăm, nhơ bẩn, hôi hám đã hoàn toàn biến mất, nhường chỗ lại cho ánh sáng, cho cái đẹp, cái văn hóa sinh thành. Nhờ cái đẹp từ con người và dòng chữ của Huấn Cao, viên quản ngục đã có đủ dũng khí để dám làm một việc đảo lộn trật tự nhà giam nhằm theo đuổi và tôn thờ cái đẹp. Khí chất, bản lĩnh con người và cái đẹp của nghệ thuật quả là có sức mạnh kì diệu làm thay đổi con người. Không những thế, nghệ thuật đích thực góp phần níu giữ tính nhân bản cho con người. Cái đẹp toát lên từ dòng chữ, từ khí phách và tấm lòng của Huấn Cao quả thực đã giúp viên quản ngục dám thay đổi hoàn cảnh sống, tìm lại bản tính thiên lương và đam mê cái đẹp, thức tỉnh cái khát vọng đổi thay bởi ông không thuộc về nơi ấy. Cái đẹp của nghệ thuật, của khí phách, của tình người đã góp phần vươn tới, hướng về, níu giữ những phẩm chất đáng quý của con người, trả lại cho viên quản ngục những nét đẹp cao quý trong khát vọng, mơ ước và tính cách của một con người biết giá người, biết trọng người ngay với một tâm điền tốt để thực sự trở thành một thanh âm trong trẻo vút bay cao giữa hoàn cảnh tột cùng của cái xấu, cái ác, cái nhơ bẩn và xấu xa!

2) Cái đẹp thức tỉnh có giá trị thức tỉnh

Đề cao cái đẹp, hướng con người tới những giá trị nhân văn cao quý là sứ mệnh thiêng liêng của những tác phẩm văn chương đích thực. Xuyên suốt Chữ người tử tù, người ta thấy sự hiện diện của cái đẹp để thức tỉnh con người. Khí phách, nhân cách và sự tài hoa của Huấn Cao đã làm viên quản ngục thức tỉnh, ý thức rõ hơn về cái thân phận bị cầm tù trong cái lồng cũi của tội ác, cường quyền đầy hỗn loạn, xô bồ. Không những thế, nó còn giúp ông có thêm dũng khí để chọn lựa bước đường lương thiện tiếp theo. Nhưng nếu chỉ thấy được sự tác động một chiều từ Huấn Cao tới viên quản ngục thì đó quả thực là một thiếu sót lớn. Thế giới nhân vật được xây dựng bởi bàn tay tài hoa của nhà văn họ Nguyễn không phải sinh ra để nói những điều đơn giản. Nếu Huấn Cao là ngôi sao chính vị đang muốn từ biệt vũ trụ thì viên quản ngục và thậm chí là cả thầy thơ lại cũng là những ngôi sao sáng cùng châu tuần và nâng đỡ cho ngôi sao chính vị ấy. Những ngôi sao ấy cùng tỏa sáng và cùng soi sáng cho nhau để làm rực rỡ lên cho cái đêm tối tăm ở trại tù tỉnh Sơn. Tấm lòng biệt nhỡn liên tài, biết giá người, biết trọng người ngay và sở thích cao quý hướng về cái đẹp của viên quản ngục quả thực đã làm cho Huấn Cao thức tỉnh và thực sự xúc động. Sự chân thành của một tấm lòng đã đánh thức một tấm lòng khác. Vật chất, uy quyền hoàn toàn trở nên vô nghĩa, vô giá trị, chỉ còn lại tấm lòng và vẻ đẹp của nghệ thuật, của tình người lên ngôi. Trong cái đêm tối tăm ở trại tù tỉnh Sơn, vào đúng cái khoảnh khắc cuối cùng của một đời người ngang dọc, Huấn Cao hiên ngang cho chữ lồng lộng giữa trời đêm trong ánh sáng rực rỡ của bó đuốc tẩm dầu. Cả ba con người cùng chụm vào nhau, hồi hộp đón nhận khoảnh khắc cái đẹp sinh thành. Cường quyền, địa vị đã hoàn toàn biến mất, chỉ còn lại nơi đây cuộc gặp gỡ của những tấm lòng trong thiên hạ. Cái đẹp của nghệ thuật đã rút ngắn khoảng cách xa vời vợi trước đó để đưa Huấn Cao, viên quản ngục và thầy thơ lại xích lại gần nhau, hòa điệu để thực sự trở thành những kẻ tri âm, tri kỉ. Quả thực, vẻ đẹp của những con chữ vuông, tươi tắn, nói lên cái hoài bão tung hoành của một đời con người đã đánh thức thiên lương, thức dậy cái khát vọng được sống trong sạch để theo đuổi thú chơi chữ ở viên quản ngục. Và cũng chính tấm lòng của ông đã lại thức tỉnh ở Huấn Cao niềm trân quý những con người biết trân trọng, say mê và giữ gìn cái đẹp trong vốn văn hóa cổ truyền của cha ông. Dòng chữ cuối cùng của ông Huấn chính là của một kẻ tri âm trao lại cho một người tri kỉ. Nó nhắc nhở viên quản ngục hãy đi tiếp con đường gìn giữ vốn quý ông cha. Và như vậy, cái đẹp thực sự đã có sức mạnh ghê gớm thức tỉnh những khao khát, ước mơ, đánh thức khát vọng, tấm lòng và quan trọng hơn nó giúp cho con người có thêm sức mạnh, có đủ dũng khí để thay đổi hoàn cảnh sống, vươn tới một cuộc sống tốt đẹp và lương thiện hơn. Cái đẹp quả thực đã góp phần níu giữ những giá trị tốt đẹp nhất của mỗi con người, hối thúc con người ta vươn tới cái cao cả, cái thánh thiện, cái chân – thiện – mĩ và những giá trị tinh thần cao quý!

3) Cái đẹp níu giữ hồn văn hóa ông cha

Hình tượng Huấn Cao được xây dựng để vươn tới cái hoàn mĩ. Ở nhân vật ấy, người ta cảm nhận được những thông điệp và thái độ đáng quý trọng của nhà văn Nguyễn Tuân dành cho vốn văn hóa tốt đẹp của dân tộc. Nức danh trong nghệ thuật viết chữ đẹp; không vì tiền tài, danh vọng, thế lực mà khom lưng luồn cúi để bẻ cong ngòi bút; cả một đời sống với lí tưởng, hoài bão lớn lao, cao cả; khí khái, hiên ngang trước cường quyền và trước cả cái chết, Huấn Cao mang đầy đủ trong mình những tố chất xứng đáng để Nguyễn Tuân lựa chọn làm người đóng vai trò lưu giữ những nét đẹp trong văn hóa của cha ông ta xưa. Và cũng như vậy, bằng tấm lòng trân trọng, bằng niềm say mê, bằng dũng khí dám từ bỏ tiền tài, địa vị để theo đuổi niềm đam mê chơi chữ, viên quản ngục đóng vai trò là người tiếp lửa cho những giá trị văn hóa ấy mãi mãi trường tồn cùng dân tộc. Văn hóa là một dòng chảy liên tục mà kể cả người sáng tạo hay người say mê lưu giữ đều có vai trò quan trọng như nhau để làm cho dòng chảy ấy chảy xa hơn, lâu hơn trong những bước thăng trầm của lịch sử. Có thể vào buổi sáng tinh sương ngày mai, người nghệ sĩ tài hoa, kẻ chọc trời khuấy nước dám chống lại cả triều đình phong kiến –  Huấn Cao sẽ bị giải về kinh chịu án chém nhưng những dòng chữ vuông, tươi tắn, nói lên cái hoài bão tung hoành của một đời con người trong cái đêm cuối cùng Huấn Cao để lại cho viên quản ngục sẽ vẫn mãi bất tử trong tấm lòng và tâm hồn của những người đồng điệu. Viết Chữ người tử tù, Nguyễn Tuân đã gửi gắm cả cái khát vọng bất tử hóa, lưu giữ mãi mãi cái đẹp trong vốn văn hóa truyền thống cha ông. Cái đẹp, cái văn hóa thực sự vững bền bởi nó là sự vươn tới, sự hướng về, sự níu giữ mãi mãi tính người cho con người, nhắc nhở mỗi chúng ta về sự quý trọng, gìn giữ và phát huy những giá trị tốt đẹp của vốn văn hóa cổ truyền. Chữ người tử tù, như vậy có thể xem là một nghĩa cử, một sự trân trọng, thể hiện tình yêu và sự gắn bó tha thiết của nhà văn Nguyễn Tuân với văn hóa – con thuyền chuyên chở hồn cốt và điệu hồn dân tộc!

Chiếc đồng hồ thời gian lại vẫn tiếp tục thực hiện những vòng quay miên viễn. Đất nước đang tiếp tục bước tiếp hành trình vạn dặm sang thế kỉ XXI với những bước chân nhiều vận hội nhưng cũng lắm chông gai. Sự lên ngôi của những giá trị vật chất, sự xuống cấp trầm trọng của những nền tảng luân lí và đạo đức con người đã gióng lên hồi chuông cảnh tỉnh về sự cần thiết của những nền tảng văn hóa trong nếp sống, suy nghĩ và hành động của mỗi con người. Thế mới biết, trong bất cứ thời đại nào và ở hình thái xã hội nào đi chăng nữa, sự am hiểu, tri thức và ý thức về văn hóa đều cần thiết biết bao. Ở những năm 40 của thế kỉ XX, với Chữ người tử tù, Nguyễn Tuân đã nói lên tiếng lòng và tình yêu tha thiết ông dành cho cái đẹp, cho những giá trị văn hóa cốt lõi trong tình thần dân tộc. Người ta nói, văn hóa chính là những cái còn lại khi tất cả mọi cái đã mất đi. Hồn cốt tạo nên nền tảng văn hóa dân tộc Việt có lẽ không có gì khác ngoài truyền thống yêu nước, yêu hòa bình và trọng sự học. Trân trọng và đưa chữ viết lên thành một thứ nghệ thuật đầy đam mê cái cốt lõi không là gì khác ngoài tình yêu dành cho tri thức, trí tuệ. Hình tượng Huấn Cao, viên quản ngục trở nên lồng lộng và có sức sống lâu bền trong lòng độc giả nhiều thế hệ bởi nó chuyển tải những thông điệp văn hóa có tính chất trường tồn như thế. Bởi xét đến cùng, khi con người ta có tri thức, trọng chữ viết, trọng sự học là lúc ta hiểu rõ đạo lí và biết cách làm một con người chân chính. Một đất nước, một dân tộc giữ vững được những điều căn cơ như vậy chính là nền tảng tạo nên một thiết chế văn hóa lành mạnh, tốt đẹp giữa người với người. Trân trọng văn hóa là trân trọng quá khứ, trân trọng nguồn cội. Đất nước nào gìn giữ và làm được điều ấy là một đất nước may mắn, bởi “một dân tộc không có quá khứ là một dân tộc bất hạnh” và còn bởi vì “nếu anh bắn vào quá khứ bằng súng lục thì tương lai sẽ bắn vào anh bằng đại bác”. Viết Chữ người tử tù, nhà văn Nguyễn Tuân thực sự đang hướng về, đang níu giữ những giá trị văn hóa tốt đẹp của cha ông. Đó thực sự là tiếng lòng khẩn thiết của ông về việc gìn giữ những vốn quý trong văn hóa cổ truyền, đừng để nó dần dần bị lãng quên trong lớp bụi mờ của thời gian để còn lại đâu đây “cái di tích tiều tụy đáng thương của một thời tàn” như tiếng kêu thương đầy sầu muộn của Vũ Đình Liên trong bài thơ Ông đồ của một thời tàn tạ:

Năm nay đào lại nở

Chẳng thấy ông đồ xưa

Những người muôn năm cũ

Hồn ở đâu bây giờ?

——————

Thái Văn Phú

GV trường THPT Quỳnh Lưu 2 – Quỳnh Lưu – Nghệ An

Chữ  người tử tù là một truyện ngắn khiến ta thêm yêu và khâm phục cái tài năng và sự tài hoa uyên bác của nhà văn Nguyên Tuân. Với quan niệm suốt đời đi tìm cái đẹp của mình nhà văn đã mang đến cho chúng ta những cái đẹp trong tác phẩm chữ người tử tù. Cái đẹp ấy có cả con người và những thú vui những giá trị truyền thống.

 

Tags
Show More

Related Articles

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Close